Chìa khóa của cô tìm thấy ổ khóa lúc một giờ mười, trễ bốn mươi phút so với giờ ca đóng cửa lẽ ra đã kết thúc, và suốt quãng đường về nhà cô cứ hình dung hành lang này tối om và căn hộ này đã ngủ say từ lâu.
Nhưng không phải vậy. Anh vẫn còn thức trong phòng khách, không một ngọn đèn nào được bật, chỉ có ánh đèn đường lọt qua rèm cửa thành những vệt sáng nhạt trên sàn, và khi chìa khóa của cô xoay trong ổ, anh không với tay bật công tắc.
Cô đứng ở ngưỡng cửa lâu hơn cần thiết một chút, áo khoác vẫn cài kín cổ, chờ mắt quen với bóng tối hoặc chờ anh lên tiếng trước. "Anh đâu cần phải thức chờ em."
"Anh biết." Anh không đứng dậy ngay. Anh chỉ nhìn cô từ chỗ đang ngồi, bóng tối làm điều gì đó cho anh mà ngọn đèn chẳng bao giờ làm được.
Cô băng qua căn phòng như cách người ta băng qua một căn phòng đã thuộc lòng — qua tay vịn gần của ghế sofa, ba bước, bốn bước — và anh ra đón cô trước khi cô kịp bước bước cuối.
Tay anh tìm đến chiếc cúc trên cùng của áo khoác cô trước khi cả hai kịp nói thêm gì, mở nó ra thật chậm, như thể đó là điều anh đã nghĩ đến từ trước khi ca làm của cô bắt đầu.
"Một ngày dài," cô nói, và để đôi vai mình chùng xuống dưới tay anh, len ẩm và lạnh vì cơn mưa mà mãi đến giờ cô mới nhận ra, đứng yên trong đó.
"Anh nghe mưa bắt đầu rơi lúc khoảng mười một giờ." Môi anh tìm đến thái dương cô thay vì sợi dây đèn treo lủng lẳng cách tay anh vài phân, và cô chợt hiểu ra, tất cả cùng lúc, rằng đó là cố ý — rằng anh không muốn bật đèn, không muốn cô bước vào một căn phòng nơi cô bị nhìn thấy trước khi được ôm lấy.
Chiếc áo khoác trượt nốt phần còn lại xuống và anh đỡ lấy nó trong một động tác duy nhất trước khi nó chạm sàn, như thể anh đã một mình luyện tập cú đỡ đó trong bóng tối gần cả tiếng đồng hồ.
Ngọn đèn vẫn đứng nguyên chỗ nó luôn đứng, dây điện cuộn quanh chao đèn, công tắc không ai chạm tới. Không ai trong hai người tiến về phía nó. Có những cuộc trở về chỉ tồn tại được trong bóng tối, và cả hai, không cần một lời nào về điều đó, đã sớm biết đây là loại nào.
